Bê tráp là nghi lễ truyền thống của dân tộc ta từ xưa đến nay. Ngày nay khi nhiều phong tục ít nhiều đã có sự cải biên; thay đổi thì nghi thức này vẫn luôn tồn tại và phát huy. Tuy nhiên, hiện nay có khá nhiều bạn trẻ vẫn chưa thực sự hiểu rõ nghi thức bê tráp diễn ra như thế nào? Bài viết sau đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về nghi thức này cũng như cách tiến hành nghi thức này như thế nào.
1.Chuẩn bị như thế nào là đúng ?
Nhà trai cần chuẩn bị tráp theo đúng số lượng tráp ăn hỏi mà nhà gái thách cưới. Và tương ứng với số tráp là số lượng người bê tráp và đữa tráp. Đội bê tráp nên được chọn lọc kỹ càng để đảm bảo buổi lễ cưới được thực hiện tốt đẹp nhất.
quy trình bê tráp:
Phong tục trao tráp trải qua 7 bước.
Bước 1: Chuẩn bị
Hai bên gia đình sẽ họp mặt và thống nhất với nhau về số lượng mâm tráp ăn hỏi. Và nó sẽ được chuẩn bị tráp hỏi cùng với đội ngũ đỡ tráp. Vào khung giờ hoàng đạo đã định sẵn thì đoàn nhà trai sẽ đến nhà gái để trao lễ của mình.
Bước 2: Trao lễ
Nhà trai sẽ chuẩn bị đội hình theo thứ bậc ngôi thứ trong gia đình, đầu tiên là ông bà, tiếp đến là bố mẹ và rồi đến chú rể và đội bê tráp cũng như các thành viên khác đi dưới đội bê tráp. Sau đó, hai gia đình xong màn chào hỏi thì đoàn bê tráp của hai bên sẽ trao tráp cho nhau và cùng đỡ mâm quả vào nhà.

Trong khi trao tráp, hai bên sẽ trao lì xì cho nhau đã được chuẩn bị trước để trao duyên cho nhau.
Bước 3: Nhận quả và mở quả
Sau khi đã trao và nhận tráp cho nhau, cả hai gia đình sẽ ngồi uống nước, có đôi lời nói chuyện với nhau và giới thiệu về các người đại diện có mặt ở trong buổi lễ. Đại diện bên họ nhà trai sẽ có đôi lời phát biểu đối với họ nhà gái và đồng thời họ nhà gái cũng sẽ có đôi lời cảm ơn và chấp nhận tráp của họ nhà trai để hoàn thành nghi thức trao duyên. Và sau đó mẹ của chú rể và mẹ của cô dâu sẽ cùng nhau mở tráp.
Bước 4: Cô dâu ra mắt gia đình hai bên
Tiếp đó, chú rể sẽ lên phòng để đón cô dâu xuống chào hỏi gia đình bên họ nhà trai. Và mẹ cô dâu sẽ đưa cô dâu ra mắt họ hàng hai bên.
[caption id="attachment_3136" align="aligncenter" width="563"]
lễ đính hôn[/caption]
Bước 5: Làm lễ gia tiên tại nhà gái
Khi đã ra mắt cô dâu, mẹ cô dâu sẽ lấy bất kỳ lễ vật trong tráp để đặt lên bàn thờ tổ tiên thắp hương cúng ông bà. Bố của cô dâu sẽ đưa cô dâu, chú rể đến bàn thờ để cùng thắp hương.
Bước 6: Hai gia đình tiến hành bàn bạc về lễ cưới
Khi đã hoàn tất nghi thức cúng bái tổ tiên, họ hàng gia đình hai bên sẽ thống nhất và họp mặt về ngày giờ đón dâu và tự tổ chức đám cưới.
Bước 7: Lại quả
Nhà gái sẽ chia đồ lại quả cho nhà trai, sau đó nhà gái sẽ trả lại mâm tráp cho nhà trai để mang về. Lưu ý khi chia đồ lại quả:
Khi bạn chia đồ lại quả bạn nên xé bằng tay chứ không được dùng kéo cắt
Thứ tự bê tráp
Khi bê tráp gia chủ nên chú ý thứ tự bê tráp (tùy theo số lượng tráp). Cụ thể thứ tự từ trước ra sau là:
- Đối với lễ ăn hỏi 5 – 7 tráp: Tráp cau – tráp rượu thuốc – tráp hoa quả/rồng phượng – các tráp cao (tráp bánh cốm, bánh phu thê, tráp trà, tráp hạt sen)
- Đối với lễ ăn hỏi 9 – 11 tráp: Tráp cau – tráp rượu thuốc – tráp lợn sữa – tráp hoa quả/rồng phượng – tráp xôi – tráp bia/nước ngọt – các tráp cao (tráp bánh cốm, bánh phu thê, tráp trà, tráp hạt sen)














Bê tráp cần kiêng gì?
- Việt Nam sở hữu truyền thống chú trọng trong việc chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ dạm ngõ, ăn hỏi cũng như rước dâu. Bởi từ ngàn đời xưa, ông cha ta luôn quan niệm rằng đám cưới làm ngày đẹp sẽ giúp cuộc sống vợ chồng sau này được thuận hòa, hạnh phúc và êm ấm. Và dưới đây là những lưu ý cho những cặp đôi còn chưa hiểu rõ về bê tráp nên kiêng những gì:
- Theo tử vi, kiêng tuyệt đối cưới hỏi vào những ngày có sao Cô Thần, Quả Tú, Không Phòng bởi những ngày này được nhân gian tương truyền là người vợ sau này sẽ cô quạnh và hiếm con.
- Kiêng cưới hỏi và năm cô dâu đang ở tuổi kim lâu nhằm hạn chế rủi ro về đường con cái, hôn nhân thì không bền chặt.
- Không nên cưới vào tháng 7 âm lịch hay còn được gọi là tháng cô hồn, tháng Ngưu Lang – Chức Nữ xa nhau.
-
Người bê tráp ở đội nhà trai đặc biệt là người bưng quả phải là nam thanh nữ tú và chưa có gia đình. Không nên chọn những người đã có gia đình, có con hoặc hơn tuổi cô dâu, chú rể.



các lễ nghi trong ngày rước cô dâu.
Lễ nạp tài: Là ngày nhà trai đem sính lễ sang nhà gái để đón dâu (như ở dưới sẽ nêu). Ý nghĩa của lễ nạp tài là nhà trai góp phần với nhà gái chi phí cỗ bàn, cho nhà gái và cô dâu biết mọi thứ đã chuẩn bị sẵn. Với đồ nữ trang cho cô dâu làm vốn (bố mẹ chồng sẽ trao lúc làm lễ ở nhà gái trước đông đủ quan viên được mời - nội ngoại nhà gái), cô có thể yên tâm xây dựng tổ ấm mới, chứ không đến nỗi sẽ gặp cảnh thiếu thốn.
- Lễ xin dâu: Trước giờ đón dâu nhà trai cử người đem trầu, rượu đến xin dâu, báo đoàn đón dâu đã đến.
- Tục chăng dây: ở một số đám cưới, nhà gái bố trí vài em nhỏ bụ bẫm, xinh xắn, mặc áo đỏ chăng dây trước của nhà gái. Khi nhà trai đến, một trong các em nhỏ chạy về báo cho nhà gái biết. Nhà trai chuẩn bị một ít kẹo để phân phát cho lũ trẻ chăng dây này, khi đã nhận được kẹo bọn chúng sẽ rút dây để đoàn nhà trai đi vào nhà gái (tục này hiện nay đã mai một không còn thấy xuất hiện ở nhiều địa phương).
- Lễ rước dâu: Đoàn rước dâu của nhà trai đi thành một đoàn, có cụ già cầm hương đi trước, cùng với người mang lễ vật (các quả hộp: trầu cau, rượu, bánh phu thê và nếu gia đình nhà trai có điều kiện thì lễ vật sẽ thêm các món khác - ví như nem chả, bánh kem,...). Nhà gái cho mời cụ già thắp hương vái trước bàn thờ rồi cùng ra đón đoàn nhà trai vào. Cô dâu cùng với chú rể lạy trước bàn thờ, trình với tổ tiên. Sau đó hai người cùng bưng trầu ra mời họ hàng. Cha mẹ (nhà gái) cô dâu tặng quà cho con gái mình. Có gia đình cũng lúc này bày cỗ bàn cho cả họ nhà gái chung vui. Khách nhà trai (như là các vị khách thông thường không có sự xuất hiện của các lễ nghi có sự tham gia của hai bên) cũng được mời vào cỗ với mục đích giới thiệu đôi bên rằng đây là nơi con gái họ làm dâu(ở Huế gọi đây là ngày Vu Quy tương đương Thành Hôn ở nhà trai, lễ Vu Quy này có thể diễn ra trước một ngày so với lễ Thành Hôn của nhà trai. Xin nói thêm là lễ Vu Quy là lễ cáo bái ở nhà gái để cô dâu ra đi lấy chồng xong đây là lễ mang tính chất nghi lễ cao không đòi hỏi cỗ bàn, nếu nhà gái có điều kiện thì tổ chức quy mô còn không thì thắp hương và từ biệt họ hàng nội ngoại). Sau đó là cả đoàn rời nhà gái, để đưa dâu về nhà chồng. Họ nhà gái chọn sẵn người đi theo cô gái, gọi là các cô phù dâu.
- Rước dâu vào nhà: đoàn đưa dâu về đến ngõ. Lúc này, bà mẹ chồng cầm bình vôi, tránh mặt đi một lúc, để cô dâu bước vào nhà. Hiện tượng này được giải thích theo nhiều cách. Thường người ta cho rằng việc làm này có ý nghĩa khắc phục những chuyện cay nghiệt giữa mẹ chồng và nàng dâu sau này.
- Lễ tơ hồng: khi hai họ ra về, một số người trừ người thân tín ở lại chứng kiến cô dâu chú rể làm lễ cúng tơ hồng. Người ta cho rằng vợ chồng lấy được nhau là do ông Tơ bà Nguyệt trên trời xe duyên cho. Cúng tơ hồng là để tạ ơn hai ông bà này. Lễ cúng đơn giản, ông cụ già cầm hương lúc đón dâu, hoặc ông cụ già cả nhất của họ hàng làm chủ lễ. Hai vợ chồng lạy lễ tơ hồng rồi vái nhau.
- Trải giường chiếu: bà mẹ chồng, hoặc một bà cao tuổi khác, đông con nhiều cháu, phúc hậu, hiền từ, khi cô dâu chú rể vào phòng tân hôn, bà này sẽ trải đôi chiếu lên giường ngay ngắn, xếp gối màn cẩn thận...
- Lễ hợp cẩn: đây là buổi lễ kết thúc đám cưới tại nhà trai. Trước giường có bàn bày trầu rượu và một đĩa bánh phu thê. Ông cụ già đứng lên rót rượu vào chén rồi mời đôi vợ chồng cùng uống.
- Tiệc cưới: dù đám cưới lớn hay nhỏ, cũng phải có tiệc cưới. Đặc biệt là ở nông thôn, tính cộng đồng xóm giềng, làng xã, họ hàng đang còn mạnh thì tiệc cưới là một dịp tốt để củng cố tính cộng đồng ấy. Ở thành phố, người ta thường tổ chức tiệc cưới ngay sau lễ thành hôn, cho nên nhiều khi cái "tục" của sự ăn lấn át mất cái "thiêng" của lễ cưới. Người ta đến ăn, ngồi cùng bàn ăn là những người không quen biết, ăn sao cho đúng giờ. Tiệc cưới có thể tổ chức nhà gái (trước hôm cưới) và nhà trai (trong ngày cưới); nhưng cũng có thể hai nhà tổ chức chung thành một tiệc.
- Lễ cheo: một số vùng của Việt Nam còn có lễ cheo. Lễ cheo có thể tiến hành trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày. Lễ cheo là nhà trai phải có lễ vật hoặc kinh phí đem đến cho làng hay cho xóm có con gái đi lấy chồng. Lễ cưới là để họ hàng công nhận, lễ cheo là để xóm làng tiếp thu thêm thành viên mới, nhân tố mới của làng.
- Lễ lại mặt: (còn gọi là nhị hỷ hoặc tứ hỷ), sau lễ cưới (2 hoặc 4 ngày), hai vợ chồng trẻ sẽ trở về nhà cha mẹ vợ mang theo lễ vật để tạ gia tiên. Lễ vật cũng có trầu, xôi, lợn. cha mẹ vợ làm cơm để mời chàng rể và con gái mình. Ở một số trường hợp nếu xảy ra chuyện gì mà nhà trai không bằng lòng sau đêm hợp cẩn, thì lễ nhị hỉ lại có những chuyện không hay, nhưng trường hợp này rất hiếm.
- Tóm lại: các nghi lễ cưới theo văn hóa Việt Nam hiện nay đều tuân thủ các lễ như vậy xong ở các vùng miền khác nhau có sự thay đổi chút ít để phù hợp hơn nhưng mô hình chung không thể phá vỡ mô hình trên. Chỉ có các dân tộc thiểu số vẫn còn duy trì văn hóa mẫu hệ (con mang họ mẹ) thì mới có hình thức ngược lại với trên, còn các dân tộc theo văn hóa phụ hệ (con theo họ cha) thì hầu như trong lễ cưới thì họ là người quyết định ngày giờ và cách thức cưới hỏi.

-
sau đây là những nghi lễ mà bên dịch vụ cuoihoi169 tư vấn và giải thích cho các cặp uyên ương được hiểu rõ về lễ bưng tráp hoặc những lê nghi mà các bạn chưa biết chúc các bạn có một lễ cưới trọn vẹn vui vẻ hạnh phúc !
Tham khảo thêm bài viết gốc ở : Phong tục bê tráp của người việt
by via Cưới Hỏi 169 - Feed
No comments:
Post a Comment